Connect with us

Xin chào, bạn đang tìm kiếm gì?

vietnamhomnay
Chinh sach thu hut FDI

Kinh doanh

Chính sách thu hút FDI không phải ‘may sẵn’ mà là ‘may đo’ cho từng nhà đầu tư

Việt Nam có lợi thế thu hút FDI trong xu hướng chuyển dịch hoạt động đầu tư, sản xuất. Để biến những cơ hội thành những dự án cụ thể thì cần có chính sách thu hút FDI đột phá và cách làm mới.

Việt Nam có lợi thế thu hút dòng vốn FDI trong xu hướng chuyển dịch, mở rộng đầu tư sản xuất nhằm tránh những thiệt hại từ chiến tranh thương mại Mỹ – Trung, đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu. Tuy nhiên để biến cơ hội thành những dự án cụ thể đóng góp cho sự phát triển của nền kinh tế thì cách thức thu hút FDI phải mới và đột phá.

Trước tiên, Việt Nam phải xác được định được muốn đón nhận được dòng vốn đầu tư như thế nào? Dòng vốn ấy sẽ đóng góp như thế nào vào quá trình tái cơ cấu tăng trưởng của nền kinh tế?

Ông Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương (CIEM), thành viên tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng nếu quan điểm rằng trước tiên, Việt Nam phải  xác được định được muốn đón nhận được dòng vốn đầu tư như thế nào? Dòng vốn ấy sẽ đóng góp như thế nào vào quá trình tái cơ cấu tăng trưởng của nền kinh tế?

TS Nguyen Dinh Cung
Ông Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương (CIEM), thành viên tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng.

Hiện dòng vốn đầu tư FDI ở Việt Nam chủ yếu đến từ Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore, Đài Loan (Trung Quốc) và cả đại lục vào những năm gần đây. Ngược lại, dòng vốn đầu tư trực tiếp từ EU và Mỹ mà Việt Nam thu hút được lại rất ít. Xu hướng này vẫn chưa được cải thiện sau khi Việt Nam tổng kết 30 năm thu hút đầu tư nước ngoài. Trong khi đó, Việt Nam lại rất dòng vốn chất lượng cao, sử dụng công nghệ cao, không thâm dụng lao động và đặc biệt phù hợp với việc cơ cấu lại nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng. Vậy nhà đầu tư EU, Mỹ muốn gì từ chúng ta?

“Điều nhà đầu tư muốn đầu tiên theo tôi đó là luật pháp, chính sách phải ổn định. Văn bản hướng dẫn phải cụ thể và phải dự đoán được trong quá trình thực thi. Không có có chi phí không chính thức. Đây là những việc mà chúng ta có thể làm được và làm được ngay”, ông Cung nói. Theo đó, tính tuân thủ pháp lý của nhà đầu tư nước ngoài cực kỳ cao. Họ hiểu rằng rủi ro gặp phải là rất lớn trường hợp không may có vướng mắc về pháp lý. Vì vậy, doanh nghiệp thường tránh đầu tư trong những trường hợp như vậy.

Ngoài ra, ông Cung còn cho rằng chính sách mặt bằng chung là đồng bộ, rõ ràng, nhưng với từng nhà đầu tư, chúng ta phải thiết kế được những gói chính sách mang tính “may đo”, không phải may sẵn, như vậy mới đáp ứng được yêu cầu cụ thể của nhà đầu tư. Từ đó, Việt Nam sẽ chọn được nhà đầu tư chất lượng và cả hai bên sẽ cùng thắng trong cuộc chơi thu hút đầu tư. Khi làm được điều này thì hoạt động quản lý, thu hút đầu tư cũng được thay đổi theo hướng có lựa chọn để đảm bảo hiệu quả thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài theo tinh thần Nghị quyết 50 của Bộ Chính trị về về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030.

Thêm nữa, chính sách thu hút đầu tư phải đảm bảo được doanh nghiệp tư nhân trong nước được hỗ trợ, tham gia hợp tác, cung ứng cùng doanh nghiệp FDI. Nếu không, những ưu đãi đó sẽ vô tình chỉ dành cho nhà đầu tư nước ngoài.

Đồng tình với quan điểm gói chính sách ưu đãi cho nhà đầu tư “không phải may sẵn mà là may đo”, ông Đỗ Nhất Hoàng, Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài cho biết Bộ Kế hoạch & Đầu tư đang làm việc với các bộ ngành, địa phương xây dựng gói hỗ trợ cho từng loại dự án thay vì ưu đãi đại trà như trước đây. Đồng thời, khi phê duyệt chủ trương đầu tư, Cục Đầu tư nước ngoài có tính đến các yếu tố như chất lượng, công nghệ, hiệu quả và môi trường, cho doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào chuỗi giá trị… để quyết định mức độ ưu đãi cho dự án. Những dự án nào có số lượng doanh nghiệp tham gia vào chuỗi cung ứng càng nhiều thì được hưởng ưu đãi càng nhiều.

cuc truong dau tu do nhat hoan 3063 8950 1599206123
Ông Đỗ Nhất Hoàng, Cục trưởng Cục Đầu tư, Bộ Kế hoạch & Đầu tư. Ảnh: Báo Chính phủ.

Chính sách của cơ quan quản lý nhà nước là vậy nhưng có nắm bắt được hay không lại phụ thuộc rất lớn vào doanh nghiệp. So với các nước trong khu vực hay những nước cạnh tranh trực tiếp về thu thút FDI như Indonesia, Ấn Độ thì tỷ lệ nội địa hóa của Việt Nam thấp nhất, ở mức dưới 30%.

Theo ông Hoàng có ba cách để thay đổi tỷ lệ nội địa hóa. Trước tiên, doanh nghiệp tự nâng cấp năng lực, trình độ của mình, bên cạnh sự hỗ trợ từ đối tác và nhà nước. Thứ hai, doanh nghiệp nội có thể mua doanh nghiệp FDI có công nghệ và đã tham gia chuỗi cung ứng, tiến tới làm chủ công nghệ. Thứ ba, doanh nghiệp Việt có thể đầu tư ra nước ngoài, nhằm vào những công ty đã tham gia chuỗi cung ứng và mang công nghệ đó trở lại áp dụng vào hoạt động sản xuất trong nước.

Ngoài ra, để có sự chuẩn bị về quỹ đất sạch cho những nhà đầu tư lớn, Bộ Kế hoạch & Đầu tư đã yêu cầu các địa phương rà soát lại quỹ đất tại các khu công nghiệp, khu kinh tế. Trường hợp những dự án chậm tiến độ phải thu hồi quỹ đất.

Đồng thời, Chính phủ cũng thành lập tổ công tác đặc biệt thu hút FDI do Phó Thủ tướng làm tổ trưởng, Bộ trưởng Kế hoạch & Đầu tư làm tổ phó thường trực và đã làm việc với nhiều tập đoàn công nghệ, dự án lớn, triển vọng ban đầu cũng rất tích cực.

Bên cạnh việc chú trọng mối liên kết với doanh nghiệp FDI thì mối liên kết giữa doanh nghiệp Việt Nam cũng được ông Nguyễn Văn Toàn, Phó Chủ tịch Hiệp hội Nhà đầu tư nước ngoài đề xuất cần phải lưu tâm. Theo đó, những tập đoàn, doanh nghiệp lớn của Việt Nam có thể dẫn dắt, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ để cùng tham gia vào chuỗi liên kết. Từ đó, doanh nghiệp nhỏ từng bước được nâng cấp năng lực, kinh nghiệm hợp tác và cả nguồn nhân lực từ kinh nghiệm có được sau khi làm việc với doanh nghiệp lớn.

Theo báo cáo về tình hình thu hút FDI của Bộ Kế hoạch & Đầu tư, tính đến ngày 20/8, tổng vốn đăng ký cấp mới, điều chỉnh và góp vốn, mua cổ phần trên cả nước đạt gần 20 tỷ USD, giảm hơn 13% so với cùng kỳ năm ngoái. Đồng thời, số vốn đầu tư đã thực hiện đạt gần 11,4 tỷ USD, giảm gần 50% so với năm ngoái.

Dòng vốn FDI đã đầu tư vào 18 ngành, lĩnh vực ở Việt Nam. Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đạt trên 9,3 tỷ USD, chiếm 47,7% tổng vốn đầu tư đăng ký. Tiếp đến là lĩnh vực sản xuất, phân phối điện với tổng vốn đầu tư trên 4 tỷ USD, chiếm hơn 20% tổng vốn đầu tư đăng ký. Sau đó là hoạt động kinh doanh bất động sản, bán buôn bán lẻ với tổng vốn đăng ký lần lượt là gần 2,9 tỷ USD và hơn 1,2 tỷ USD.

Trong số 106 quốc gia và vùng lãnh thổ có hoạt động đầu tư tại Việt Nam, Singapore dẫn đầu với tổng vốn đầu tư hơn 6,5 tỷ USD, chiếm gần 34% tổng vốn đầu tư FDI. Hàn Quốc đứng thứ hai, với tổng vốn đầu tư 2,97 tỷ USD, chiếm hơn 15,%. Trung Quốc đứng thứ ba với tổng vốn đầu tư đăng ký gần 1,8 tỷ USD, chiếm khoảng 9%.

Bạc Liệu là địa phương dẫn đầu về thu hút FDI với dự án LNG trị giá 4 tỷ USD, chiếm hơn 20% tổng vốn đăng kỳ đầu tư của cả nước. Sau đó là thành phố Hà Nội và TP HCM với tổng vốn đăng ký lần lượt là gần 2,9 tỷ USD và hơn 2,6 tỷ USD.

Click to comment

Leave a Reply

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Có thể bạn quan tâm

Kinh doanh

Bắt đầu từ ngày 5/12, các ngân hàng phải có trách nhiệm cung cấp thông tin tài khoản cá nhân theo đề nghị của...

Kinh doanh

Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, tính đến hết ngày 15/11, Việt Nam nhập hơn 86.300 chiếc xe nguyên chiếc, trị giá...

Thời sự

Asia Times đánh giá thành công của Việt Nam có phần đáng ngạc nhiên, khi chính phủ luôn khẳng định không đặt vấn đề...

Thời sự

Các doanh nghiệp vận hành tuyến bus tại Hà Nội đang gặp nhiều khó khăn do chậm thanh quyết toán kinh phí trợ giá...